Chim biển có thể được định nghĩa là loài chim kiếm sống chủ yếu từ đại dương, ngoài vùng thủy triều hoặc vùng lướt sóng.
Chim biển có khả năng thích nghi tuyệt vời với cuộc sống ở đại dương. Nói chung, chúng có lông dày đặc và không thấm nước; lớp mỡ; và một hệ thống khử muối để loại bỏ lượng muối dư thừa. Một số, như Common Murre, gắn bó khá gần nhà trong suốt cuộc đời của chúng; những loài khác, như một số loài chim hải âu và hải âu, thực sự lang thang khắp phần lớn Bắc Thái Bình Dương trong suốt một năm. Hình dạng cơ thể của chúng phản ánh lịch sử cuộc sống của chúng:
Đôi cánh mập mạp và thân hình củ khoai tây của Murrelet Marbled không phù hợp để bay đường dài nhưng lại tuyệt vời để theo đuổi việc lặn dưới nước, tạo cho chúng môi trường kiếm ăn ba chiều. Đây là thiết kế phù hợp cho vùng nước lạnh hơn ở phía bắc, nơi con mồi tập trung dày đặc.
Ngược lại, đôi cánh dài, thon, thân hình tương đối nhỏ và khứu giác nhạy bén của hải âu Laysan lại rất lý tưởng cho việc bay đường dài để tìm con mồi rải rác trên bề mặt đại dương. Đây là thiết kế phù hợp cho vùng biển ấm hơn, nơi con mồi nằm rải rác trên bề mặt.
Hầu hết các loài chim biển đều sống lâu (một số trên 50 năm) và không bắt đầu sinh sản cho đến khi chúng được 5-10 tuổi. Những đặc điểm này có thể là một chiến lược tiến hóa để đối phó với môi trường đại dương rất biến đổi của chúng: nó mang lại cho loài chim cơ hội dành vài năm để học cách tìm con mồi trong nhiều mùa trước khi cố gắng sinh sản và mang lại cho chim trưởng thành nhiều cơ hội nuôi dưỡng thành công những con non đạt đến khả năng sinh sản. bản thân chúng đi.
Chim biển đóng vai trò quan trọng trong môi trường biển, bãi triều và trên cạn vì chúng kiếm ăn trên khắp các đại dương trên thế giới, tiêu thụ khoảng 7% năng suất biển và là nguồn thức ăn cho các loài săn mồi trên biển và trên cạn khác cũng như con người. Trên đất liền và gần bờ, phân chim biển thụ tinh cho các vùng đất liền, bãi triều và bãi triều, thúc đẩy sự phát triển của thực vật địa phương.